Bùi Xuân Phái trong mắt con trai (Trích Hồi kư của Bùi Thanh Phương)               

  

Bùi Thanh Phương

Any comments or suggestions: artistphuong@gmail.com

Mobile 0915686856

87 Thuoc Bac-Ha Noi-Viet Nam

Copyright © Bui Thanh Phuong



Vài giờ trước khi mất,BXP vẽ bức tự họa này, ông ghi bên dưới ḍng chữ :" Bây giờ chỉ cần nhất là sức khoẻ , đừng ốm đau bệnh tật ǵ"


Đây là một trong những bức tranh của BXP mà vào thời NVGP , đă bị chỉ trích tơi bời. Người ta đă kết tội tác giả của nó muốn miêu tả đời sống dưới chế độ mới bằng cái nh́n ảm đạm, u buồn : người th́ đứng co ro rét mướt trong chiếc áo tơi, và ngay cả con ḅ cũng không có cỏ trên cánh đồng để ăn, cây đa th́ cũng không có lá ,và như con quái vật ,vươn những cành khẳng khiu của nó ra khắp nơi... Những điều này,ngày nay xem lại thấy buồn cười bởi v́ tất cả chỉ là người ta đă suy diễn và nó nằm ngoài quan niệm sáng tác của họa sĩ.

Bức tự họa BXP với khung cảnh chớp lửa của đạn bom,trong đợt oanh kích bằng B52 của Mỹ vào đêm 19 tháng 12 năm 1972. Người ta rất khó quên khi nh́n thấy cặp mắt ấy,cái nh́n choáng váng nghi hoặc ấy,nó thể hiện sự kiên dũng tinh thần của ông trước đớn đau và những tổn thất nặng nề của cuộc chiến.(Rất tiếc bức họa đă đang nằm ở Mỹ,nên chỉ có thể chụp lại qua tư liệu đen trắng .Một người cựu chiến binh Mỹ đă xin phép được mua và đang lưu giữ bức tranh này. )
 

 

 

 

Cuộc hành tŕnh của Bùi Xuân Phái
Bùi Xuân Phái sinh năm 1920, mất năm 1988 tại Hà Nội. Ông tốt nghiệp khoa Hội họa trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khoá 1941 – 1946, tham gia kháng chiến, đồng thời tham dự nhiều triển lăm chung với các hoạ sĩ khác. Năm 1952 ông về Hà nội, sống và sáng tác tại nhà (số 87 Phố Thuốc Bắc) cho đến khi mất.
Từ năm 1956 đến năm 1957, Bùi Xuân Phái giảng dạy tại Trường Mỹ thuật Hà Nội, khi xảy ra phong trào Nhân văn Giai phẩm, hoạ sĩ phải đi lao động, học tập trong một xưởng mộc tại Nam Định và ban giám hiệu nhà trường đă đề nghị ông viết đơn xin ngưng giảng dậy tại trường Mỹ thuật.
Bùi Xuân Phái là một trong những hoạ sĩ thuộc thế hệ cuối cùng của sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, cùng thời với các danh họa Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên - những tên tuổi ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Ông chuyên về chất liệu sơn dầu, đam mê mảng đề tài phố cổ Hà Nội. Ngay từ lúc sinh thời, sáng tạo của ông đă được quần chúng mến mộ gọi ḍng tranh này là Phố Phái. Tranh phố của Bùi Xuân Phái vừa cổ kính lại rất hiện thực, thể hiện rơ hồn cốt của phố cổ Hà Nội những thập niên 50, 60, 70. Các mảng mầu trong tranh Phái thường có đường viền đậm nét, phố không những trở thành chính nó mà c̣n gần hơn với con người, từ bề mặt đến cảnh quan đều có chiều sâu bên trong. Ngắm tranh phố cổ của Phái, người xem nhận thấy họa sĩ đă gửi gắm những kỉ niệm, những hoài cảm cùng nỗi buồn man mác, tiếc nuối bâng khuân trên từng nét vẽ, như điềm báo về sự đổi thay và biến mất của từng mái nhà, từng con người mang hồn phách xưa cũ. Ngoài phố cổ, ông c̣n vẽ các mảng đề tài khác, như: chèo, chân dung, nông thôn, khỏa thân, tĩnh vật... rất thành công. Nhiều tranh của Bùi Xuân Phái đă được giải thưởng trong các cuộc triển lăm toàn quốc và thủ đô. Ông vẽ trên vải, giấy, bảng gỗ, thậm chí cả trên giấy báo khi không có đủ nguyên liệu. Ông dùng nhiều phương tiện hội họa khác nhau như sơn dầu, màu nước, phấn mầu, ch́ than, bút ch́... Các tác phẩm của ông biểu hiện sâu xa linh hồn người Việt, tính cách nhân bản và ḷng yêu chuộng tự do, óc hài hước, đậm nét bi ai và khốn khổ. Ông đă góp phần rất lớn vào lĩnh vực minh họa báo chí và tŕnh bày b́a sách, được trao tặng giải thưởng quốc tế (Lép-dích) về tŕnh bày cuốn sách "Hề chèo" (1982).
Do tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, từ năm 1957 trở đi, hoạt động của ông dần bị hạn chế. Để kiếm sống, ông phải vẽ tranh minh họa và tranh vui cho các báo, lấy bút hiệu là : PiHa, ViVu, Ly. Măi đến năm 1984 ông mới có được cuộc triển lăm cá nhân (đầu tiên và cũng là duy nhất), nhận được sự đánh giá cao từ phía công chúng, đồng nghiệp. Với 24 bức tranh được khách hàng đặt mua ngay trong ngày khai mạc, có thể coi đây là triển lăm thành công nhất so với trước đó tại Việt Nam. Đó cũng là lần đầu tiên, Đài truyền h́nh Trung ương dành thời lượng lớn phát sóng để giới thiệu về cuộc đời và tác phẩm của Bùi Xuân Phái trong chương tŕnh Văn học Nghệ thuật.
Mặc dù cuộc sống khó khăn nhưng với t́nh yêu nghệ thuật, khát khao t́m ṭi và thể hiện cái đẹp dung dị đời thường bằng h́nh và mầu, ông cũng là hoạ sĩ đă gạt bỏ mọi toan tính đời thường để cho ra đời các tác phẩm dung dị, đơn giản nhưng đầy tâm tư sâu lắng. Nhà phê b́nh mỹ thuật Thái bá Vân đă viết về sự nghiệp nghệ thuật của ông : "Cuộc rong chơi can đảm, lầm ĺ của Bùi Xuân Phái bằng cây bút vẽ và bằng bảng màu của ḿnh là đẹp và có ư nghĩa cho Hà Nội. Cho chúng ta măi măi. Làm chứng cứ lịch sử cho một nền hội họa đi nữa,sao bằng làm chứng cứ nhân văn cho một ư thức nghệ thuật ".
Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.
Tác phẩm chính:
* Phố cổ Hà Nội - Sơn dầu 1972
*Hà Nội khán chiến - Sơn dầu 1966
*Xe ḅ trong phố cổ - Sơn dầu 1972
*Phố vắng - Sơn dầu 1981
*Hóa trang sân khấu chèo - Sơn dầu 1968
*Sân khấu chèo - Sơn dầu 1968
*Vợ chồng chèo - Sơn dầu 1967
*Trước giờ biểu diễn - 1984
Giải thưởng mỹ thuật:
*Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật năm 1996
*Giải thưởng triển lăm Mỹ thuật toàn quốc năm 1946
*Giải thưởng triển lăm Mỹ thuật toàn quốc năm 1980
*Giải thưởng đồ họa Leipzig (Đức)
*Giải thưởng Mỹ thuật Thủ đô các năm 1969, 1981, 1983, 1984
Tặng thưởng: Huy chương V́ sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam 1997


Chuyện kể về họa sĩ Nguyễn Sáng
Nguyễn Sáng (1923-1988) là hoạ sĩ có tư tưởng giải quyết vấn đề xă hội lớn lao, gay cấn rất nhuần nhị, lay động với h́nh hoạ và màu sắc hiện đại, giản dị mà không khô khan, không sáo rỗng bởi con tim thành thực yêu thương cùng với tài năng biến ảo, đa dạng. Cùng với Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Tư Nghiêm, ông là cây đại thụ của sơn mài Việt Nam. Nếu như Nguyễn Gia Trí đưa sơn mài đến đỉnh cao của những cảnh thần tiên mộng ảo, vàng son cung đ́nh đài các, th́ Nguyễn Sáng đẩy sơn mài đến đỉnh cao khác với tầng lớp đời thường cần lao, cảnh bi hùng chiến trận, chiến tranh cách mạng, những xung đột mạnh mẽ của cuộc sống hiện tại. Ông bổ sung vào sơn mài bảng màu vàng, xanh, diệp lục với cách diễn tả phong phú dường như vô tận. Những tác phẩm thành công nhất của Nguyễn Sáng nằm ở sơn mài Và đó là đóng góp lớn nhất của Nguyễn Sáng cho hội hoạ cả về chất liệu và danh tiếng.

Các tác phẩm của Nguyễn Sáng có tầm cỡ về kỹ năng, mang rơ bức thông điệp lớn về thân phận con người và tiềm ẩn một tài năng lớn của sáng tạo hiện đại cho nền mỹ thuật Việt Nam, sống và vẽ, dấn thân và quyết liệt, xả thân cả một đời cho lư tưởng nghệ thuật cao cả. Mặc dù vậy, đến khi ông chết, vẫn trong cảnh khốn cùng, âm thầm lặng lẽ như cái chết của một thứ dân bụi đời không người thân bên ḿnh trước lúc về bên kia thế giới.
Giai đoạn sung sức nhất trong sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Sáng vào thập niên 60, 70. Đó cũng là giai đoạn ở miền Bắc mọi người dân đều phải sống trong cảnh nghèo khổ, cả nước cùng dốc toàn bộ sức lực cho cuộc chiến tranh.

Với Nguyễn Sáng, ông không những chịu cảnh nghèo mà c̣n chịu thêm cảnh cô đơn, vợ con không có, ngày lễ, ngày tết, một ḿnh ông lủi thủi trên căn gác chật chội 10m2. Có lần ông đă tâm sự với bạn bè : “Con người lúc sơ sinh hai bàn tay trắng hiền lành như trẻ thơ vê tṛn vú mẹ. Con người tay áp tay, trao cho nhau chiếc nhẫn, cái hôn đầu ngày cưới. Tôi chẳng có ǵ ngoài tấm ḷng và hai bàn tay trắng”. Và khi được hỏi quan niệm về của cải, ông nói: “Nếu không v́ nghệ thuật, rải tiền đầy đường tôi cũng dẫm lên mà đi; Nếu c̣n v́ nghệ thuật, tôi sẵn sàng kiếm từng đồng xu để sống”.

Với tính cách vốn có của dân Nam bộ, Nguyễn Sáng là một người ngang ngạnh, gai góc và khó gần. Thường ngày ông vẫn đến quán rượu Thuỷ Hử ở góc phố Ngô Sĩ Liên, ngồi thu lu một ḿnh trong góc khuất với chiếc mũ lưỡi trai cáu bẩn, chiếc áo bông nhầu nát. Nom danh họa Nguyễn Sáng ngày đó như một ông lăo nhà quê. Thời ấy hiếm có ai thấy ra được rằng đó là danh họa Nguyễn Sáng, con người tài hoa này sẽ để lại cho cuộc đời một gia tài nghệ thuật vô giá. Và nếu trong đám nhân quần thời ấy kịp nhận được ra giá trị tài năng của ông mà đua chen mua tranh ông vào thời ấy. Chắc hẳn những nỗi khổ trong cuộc đời ông sẽ được xoa dịu và vơi đi nhiều. Bây giờ, tôi được biết, bức Kết Nạp Đảng của Nguyễn Sáng khi một bảo tàng ngoại quốc có ư muốn hỏi mượn của Bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam, người ta đă đặt giá bảo hiểm cho bức tranh này là 2 triệu Đô la Mỹ !
Về đời tư của họa sĩ Nguyễn Sáng, khi xưa, ông đă từngcó một cô vợ là Pháp lai, đến khi nổ ra chiến tranh (1945) th́ cô vợ Pháp lai đó rời Việt Nam về Pháp, bỏ lại Nguyễn Sáng sống độc thân từ đó đến năm 1978, ông gặp cô Thủy, và cưới cô này. Hôm đám cưới của Nguyễn Sáng, khách đến dự chỉ thấy có mỗi chú rể, tay ôm bó hoa, nước mắt dàn dụa trên khuôn mặt v́ cô dâu vừa phải đưa đi cấp cứu gấp do căn bệnh măn tính bỗng dưng can thiệp vào ngày cưới của họ. Họ sống với nhau được một năm th́ cô Thủy mất, do bị bệnh tim. Nguyễn Sáng đau buồn về cái chết của vợ cho đến hết đời. Cứ trong mỗi lần ngồi uống rượu với bạn hữu, khi có ai nhắc đến cô Thủy, ông lại mếu máo, than khóc, mặc dù là khi đó ông đă ngoài 60 tuổi.

Thời Nguyễn Sáng, cũng như Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng c̣n khổ và vật lộn với cuộc sống nhiều hơn v́ ông sống độc thân lại vốn mang chất nghệ sĩ, nên lĩnh lương đầu tháng th́ chỉ vài ngày đầu tháng đă hết, những ngày c̣n lại trong tháng rơi vào túng bấn, nợ nần triền miên. Ông thường đem tranh đến Lâm toét để cầm cố lấy tiền tiêu, và đem những bức tranh thật đẹp đến Đức Minh thuận bán theo giá mà nhà sưu tập này đặt ra.
Trong cả cuộc đời Nguyễn Sáng, người ta được biết đến bức tranh mà ông đă bán được cao giá nhất (mức giá đạt ngưỡng kỷ lục đối với Nguyễn Sáng và với các họa sĩ đương thời khi đó, khoảng năm 1982) đó là bức chân dung vẽ cho một vị Việt kiều Pháp. Nguyễn Sáng đă yêu cầu vị này trả bằng một chiếc xe máy tay ga của Pháp, lúc bấy giờ giá trị của nó khoảng 2 ngàn USD. Nguyễn Sáng thường dùng chiếc xe này đến chở Bùi Xuân Phái đi chơi và cũng cho bạn đi thử nữa. Nguyễn Sáng ngồi sau để Bùi Xuân Phái chở, phi phăm phăm trên đường phố Hà Nội khiến người Hà Nội thời bấy giờ, ai thấy cũng phải ngoái nh́n theo. Ngồi sau xe, thỉnh thoảng Nguyễn Sáng lại kêu lên    “Cẩn thận nhé Phái, phía trước có cái ô tô đấy. Cẩn thật nhé, kẻo đất nước lại mất đi hai tài năng lớn!”. Nhưng Nguyễn Sáng cũng chỉ dùng chiếc xe máy ấy một thời gian ngắn, ông đă bán xe, (thực ra là ông vừa nhượng lại vừa gán nợ cho họa sĩ Lê Chấn) và đă biến toàn bộ chiếc Peureot 102 mầu xanh thẫm ấy thành rượu. Ông cùng bạn bè ngất ngưởng trong men say chẳng được bao lâu lại hết nhẵn.

Nguyễn Sáng là người sống thẳng tính, gay gắt, nhưng cũng lại là người dễ xúc động và mặc cảm. Ông luôn thu ḿnh lại khi ở chỗ đông người. Tôi nhớ lần gặp ông trong bữa tiệc Quốc khánh của Pháp (1986), ông đứng một ḿnh trong góc khuất, không nói chuyện với ai và cũng không ai quan tâm đến ông. Tôi bèn đi lấy sampane và đồ nhắm cho ông. Nguyễn Sáng uống hết, tôi lại chạy đi lấy nữa. Sau v́ không muốn cứ phải chạy đi chạy lại nhiều, tôi lấy về nguyên một chai cho ông uống thoải mái. Lần đó ông uống gần hết chai sampane, và say. Ông luôn miệng bảo tôi “Vui Phương nhỉ!” Tôi cũng thấy vui v́ tính cách nghệ sĩ của ông. Cả một tối, ông không tiếp xúc với ai, không tham dự vào hoạt động nào, ông chỉ đứng đó một ḿnh với rượu ngon, thế cũng là đủ  “Vui Phương nhỉ!”
Cá tính và thói quen của Nguyễn Sáng cũng rất nghệ. Có lần đến nhà chơi với Bùi Xuân Phái, ông ngồi xổm, thần người ra dáng vẻ đang suy nghĩ điều ǵ. Tôi bảo ông:

 -Bác Sáng à, nhà có ghế ngay cạnh bác đó sao bác không ngồi?

Nguyễn Sáng giật ḿnh, ra khỏi ḍng suy nghĩ v́ có người nhắc. Ông cáu kỉnh gắt:

-Tôi mà ngồi vào cái ghế này th́ tôi sẽ không suy nghĩ ra được điều ǵ hay hớm cả, sự êm ái của nó chỉ tổ làm cho tôi buồn ngủ.
Một lần khác ông đến chơi đúng vào lúc gia đ́nh đang chuẩn bị bữa ăn tối, Bùi Xuân Phái mời ông cùng ngồi ăn. Trong không khí thân thiện, khi câu chuyện đang được nói về những điều thật b́nh dị và vui vẻ, bỗng nhiên Nguyễn Sáng đặt bát cơm xuống bàn, rồi ông ôm mặt khóc nấc lên, tức tưởi như một đứa trẻ thơ. Bùi Xuân Phái vỗ vai Nguyễn Sáng hỏi:

 -Sáng, cậu sao vậy?

Nguyễn Sáng đáp:

-Tớ muốn có một cuộc sống gia đ́nh như cậu đă có. Tớ thèm được có một bát canh nóng mỗi ngày.

Năm 1984, triển lăm cá nhân đầu tiên, và cũng là duy nhất của họa sĩ Nguyễn Sáng được tổ chức. Hôm ấy có rất đông bạn bè và người yêu tranh Nguyễn Sáng đến dự. Đương giữa lúc say sưa phấn khởi có đông đủ bạn bè hào hứng chúc mừng thành công của Nguyễn Sáng, chợt nhà văn Nguyễn Tuân phát hiện ra một điều, ông băn khoăn hỏi:

- Sao Nguyễn Sáng lại chưa nhận được cái mề đay nào nhỉ?

Mọi người cười ồ về sự phát hiện của nhà văn Nguyễn Tuân.

 Hôm đó Nguyễn Sáng tâm sự với các bạn hữu:

-Bây giờ nếu tôi về thăm qua họ hàng bà con hỏi chú đi làm Việt Minh Việt Cộng bao nhiêu năm thế mà trên ngực chẳng có cái mề đay nào? Không biết tôi nên trả lời sao? Tôi buồn lắm!
Cho dù Nguyễn Sáng chẳng được một cái mề đay nào nhưng nghệ thuật của ông đă đóng góp thật nhiều vào kho tàng nghệ thuật dân tộc, với những dấu ấn đậm sâu ghi nhận thành quả lao động sáng tạo của người nghệ sĩ đă để lại trên cơi đời này.
Lần cuối cùng tôi nh́n thấy h́nh ảnh Nguyễn Sáng đó là lần ông đến chào người bạn thân Bùi Xuân Phái trước giờ ông ra sân bay vào sống ở Sài G̣n (1987). Giờ phút biệt ly của hai người bạn đă gắn bó bên nhau cùng bao kỉ niệm vui buồn trong nửa thế kỉ - từ ngày họ c̣n là sinh viên trường Mỹ thuật Đông dương, dường như họ cũng có linh cảm là sẽ không bao giờ c̣n gặp thấy nhau nữa. Bùi Xuân Phái và Nguyễn Sáng đă nắm chặt tay nhau trong im lặng. Sau cùng, Nguyễn Sáng nói với Bùi Xuân Phái:

- Chúng ḿnh là người lớn, v́ thế chúng ḿnh không chấp những nhiễu nhương mà đời này đă bày đặt ra cho mỗi đứa chúng ḿnh.

 (Cả hai ông cùng dính líu vào nỗi oan của vụ án Nhân Văn Giai Phẩm (1956) và cùng chịu sự hệ lụy mang tính trừng phạt của nó kéo dài gần hết cuộc đời các ông). Gần một năm sau đó, năm1988, bố tôi, họa sĩ Bùi Xuân Phái mất v́ trọng bệnh và 2 tháng sau, họa sĩ Nguyễn Sáng cũng qua đời tại Sài G̣n. Bộ tứ huyền thọai Sáng - Nghiêm - Liên - Phái, trong năm 1988 có ba người lên đường sang thế giới khác, chỉ c̣n lại một người, họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm, vẫn kiên cường bám trụ đến ngày nay.

 



Chuyện kể về họa sĩ Dương Bích Liên
Dương Bích Liên (1924-1988) dấn thân và hiến dâng cho nghệ thuật đến mức lơ đăng, quên cả đời sống hạnh phúc t́nh cảm riêng tư của ḿnh. Ông sống độc thân, khép kín, gần như tách biệt với thế giới bên ngoài. Khi giật ḿnh tỉnh ra và có ư muốn lấy vợ th́ tóc ông đă bạc trắng như vôi.
Tuy nhiên, như một nghịch lư, ông cũng có một vài mối t́nh riêng, kín đáo, đầy trắc ẩn trong cuộc đời giàu tâm tư của người nghệ sĩ. Cuối đời, sức khỏe ông suy sụp nhanh. Trong đó, phần lớn do tác hại của những chén rượu mạnh đă góp phần tàn phá cơ thể vốn mong manh, phong trần của người nghệ sĩ. Vài ngày trước khi chết, ông triền miên uống rượu và hầu như hoàn toàn “tịch cốc” (chữ ông đă dùng để nói là ông không thiết ăn ǵ nữa). Ông đă chết nằm như mơ. Cái chết của ông chỉ được biết đến khi những người hàng xóm gơ cửa nhà ông mà không bao giờ c̣n nghe thấy tiếng ông trả lời nữa.
Xuất thân trong một gia đ́nh quyền thế và giầu có, Dương Bích Liên là con trai duy nhất của một ông quan tri phủ. Nhưng đến năm 17 tuổi bỗng dưng máu nghệ sĩ đă nổi lên đă khiến ông muốn từ bỏ cảnh sống giầu sang để chạy theo cuộc đời gió bụi. Ông gặp gỡ họa sĩ Hoàng Lập Ngôn vào năm 1941. Khi đó họa sĩ Hoàng Lập Ngôn vừa thiết kế xong chiếc xe ngựa, đặt tên  là “ Nhà Lăn Mê Ly”. Hoạ sĩ dùng chiếc xe ngựa kéo này làm phương tiện giao thông để đi vẽ trực cảnh khắp đó đây. Dương Bích Liên đă được họa sĩ Hoàng Lập Ngôn cho nhập hội, lên xe lăn... xuyên Việt. Nhưng chiếc xe “Nhà Lăn Mê Ly” tưởng sẽ phiêu du đất trời dài lâu nhưng chỉ lăn được đến Thanh Hoá th́ quan phủ sai người truy t́m. Người nhà quan phủ t́m ra “Nhà lăn Mê Ly” và áp giải cậu công tử về nhà. Sau chuyến lăng du có tính chất số mệnh ấy, Dương Bích Liên đă quyết định ghi tên theo học Trường Mỹ Thuật Đông Dương.Từ đây, Dương Bích Liên bắt đầu bước vào cuộc chơi nghệ thuật
Với một lối sống như người lập dị, bất cần ông là họa sĩ cô đơn và kỳ dị: “Đời không hiểu tôi và tôi cũng không hiểu đời, v́ thế nên tôi xin thu ḿnh nhỏ lại”. Dương Bích Liên là người có tật nói lắp. Nhiều câu nói của ông, tôi đă nghe ông lặp đi lặp lại nhiều lần. Và mỗi khi ông chợt nghĩ ra một câu nào hay hay của ông hoặc trích dẫn của ai đó, th́ cứ cách vài phút ông lại nói lại. Và cứ mỗi lần ông nói lại câu đó lại là... nói lắp, khiến người nghe buộc phải thuộc ḷng câu nói đó, “Chơi càng hay, vẽ càng hay”, rồi “Trong nghệ thuật không có sự tiến bộ”
Lúc sinh thời, Dương Bích Liên thường hay đến chơi Bùi Xuân Phái. Hai ông là bạn cùng học từ thời là sinh viên trường Mỹ thuật Đông Dương. Họ thấu hiểu và cảm thông những quan điểm nghệ thuật của nhau, ngay cả đôi khi họ có những khác biệt về suy nghĩ và quan niệm nghệ thuật trong sáng tác.
Dương Bích Liên là người dị ứng ghê gớm với người lạ hoặc không cùng “kênh” với ông. Khi đang ngồi chơi với Bùi Xuân Phái , nếu có bất kỳ ai t́nh cờ đến chơi, ông đều lặng lẽ đứng dậy ra về. Và mỗi khi ông đến, bao giờ ông cũng đi rón rén để nh́n qua cửa sổ xem trong nhà có khách của Bùi Xuân Phái không, nếu có, ông sẽ lại rón rén chuồn rất nhanh. Không phải ông có tính kiêu ngạo mà do cá tính ông như vậy. Bởi v́ thời đó, ngoài những người trong giới họa, th́ hầu như thiên hạ chẳng ai biết Dương Bích Liên là ai, và nhiều người nếu biết th́ lại nhầm Dương Bích Liên là một ...nữ ca sĩ. V́ tên ông trùng với tên nữ ca sĩ Bích Liên, một giọng ca rất nổi tiếng vào thời đó.
Có lần v́ ngạc nhiên và không cảm thông được khi thấy Bùi Xuân Phái thường tiếp chuyện những vị khách không “đồng cân đồng lạng” với ḿnh. Dương Bích Liên bèn hỏi:

-Tớ chịu cậu thật, tại sao những tay vô tích sự như thế mà cậu chịu đựng được? Tai th́ nghe nó nói những chuyện tầm phào, tay th́ vẫn hí hoáy vẽ được?

 Bùi Xuân Phái cười hiền lành, ông đáp:

- Cậu không biết đó thôi, mỗi vị khách đến với tớ đều trở thành người làm mẫu cho tớ vẽ. Họ cứ ngồi mà nói những chuyện mà họ thích, c̣n tớ th́ dùng họ để làm mẫu vẽ.

Đấy là lư do mà Bùi Xuân Phái có hàng ngàn bức kư họa vẽ chân dung mọi người thuộc đủ các tầng lớp, nghề nghiệp khác nhau.
Dương Bích Liên có cách nói chuyện về hội họa dễ gây ấn tượng cho người nghe. Ông cho rằng hội họa là cơi riêng tư, là nơi bộc lộ những cảm xúc của ḿnh, mỗi tác phẩm phải có dấu ấn riêng của tâm hồn, dù chưa ai hiểu, chưa ai thích cũng không cần bận tâm nhiều. Ông chỉ vẽ những vấn đề đă yêu thích và nghiền ngẫm thật sâu về nó. Mặt khác, nghệ thuật của Dương Bích Liên có tác động nhiều bởi lư thuyết sách vở mà ông nghiên cứu rất nhiều.

Hầu như những sách ông nghiên cứu đều bằng nguyên tác tiếng Pháp. Có lẽ v́ thế đă làm ông trở nên khó tính với chính ḿnh. Ông vẽ chậm và nhọc nhằn hơn nhiều nếu so sánh với lối vẽ và quan niệm của Bùi Xuân Phái .
Giai đoạn sáng tác sung sức nhất của Dương Bích Liên ở vào thập niên 60, 70. Trong những năm tháng này, ông đă từng hăm hở gửi các tác phẩm của ḿnh tham dự triển lăm nhưng chúng đều đă sớm bị loại, như bức “Hào” và bức “Bác Hồ nói chuyện với Vệ Quốc Quân”. Riêng bức thứ 2, sau khi bị loại, người ta không bao giờ c̣n thấy tăm tích tác phẩm này nữa, và cũng không thấy có ai nói đến nó nữa. Bức tranh mô tả cảnh Hồ Chí Minh đang nói chuyện với người lính Vệ Quốc Quân ở Chiến khu Việt Bắc. Lư do bức tranh bị loại là họa sĩ đă vẽ người lính nhắm mắt trong khi vị lănh tụ đang nói chuyện. Nhưng theo cách lư giải của Dương Bích Liên th́ chỉ khi nào người ta extreme (cực sướng) th́ người ta mới thường nhắm mắt. Ông muốn giải thích rằng người lính đang ngất ngây khi nghe lănh tụ căn dặn, chỉ bảo. Nhưng vào thời thời đó, cách diễn giải của người họa sĩ không thuyết phục được ban giám tuyển. V́ họ cho rằng, lănh tụ đang nói chuyện mà người nghe lại ngủ, thế nên tác phẩm này bị loại ngay khi họ vừa được nh́n thấy nó. Người ta cho rằng Dương Bích Liên đă tự ái và đau buồn v́ sự ghẻ lạnh của giới chính thống đối với những tác phẩm của ḿn. Thế nên về cuối đời ông đă gần như không có hứng thú sáng tác. Ông rơi vào chán nản và gần như bỏ cuộc. Người ta không thấy họa sĩ vẽ thêm được tác phẩm nào xuất sắc nữa. Năm 1984, Nhà nước chính thức mời bộ tứ “ Sáng, Nghiêm, Liên, Phái” tổ chức triển lăm cá nhân. Chỉ có riêng Dương Bích Liên từ chối v́ trong xưởng vẽ của ông chẳng c̣n bức tranh nào.
Tôi nhớ lần cuối cùng Dương Bích Liên và Bùi Xuân Phái ngồi uống rượu với nhau. Bữa đó ông đến từ chiều, Bùi Xuân Phái cũng phải hai lần bảo tôi cầm chai đi mua rượu trắng về cho các ông uống. Dương Bích Liên uống nhiều, càng uống ông càng nói hăng, măi đến 2 giờ đêm. Tôi thấy Bùi Xuân Phái đă thấm mệt, nên đă chủ động d́u Dương Bích Liên đứng dậy và nói “ Để cháu đưa tiễn bác về nhà” Giữa đêm hôm, đường phố Hà Nội không một bóng người, chỉ có hai bác cháu d́u nhau đi trên hè phố. Một tay Dương Bích Liên bá vai tôi, c̣n tay kia vẫn ôm khư khư cái nón cối. Trên đường đi, tôi ngỏ ư muốn có một bức tranh của ông để chơi. Dương Bích Liên như tỉnh rượu hẳn, ông bảo tôi như mắng “ Nếu cậu đă là một thằng họa sĩ th́ đừng bao giờ tính chuyện chơi tranh của một thằng họa sĩ khác, bởi v́ nếu cậu phục lăn nghệ thuật của nó th́ cậu c̣n vẽ được cái ǵ hay hớm nữa ? Là họa sĩ, cậu cũng không cần phải đánh ghen với thằng họa sĩ nào, nếu có đánh ghen th́ hăy đánh ghen với Gauguin, Van Gogh. Phải có tinh thần như vậy th́ mới ḥng mong khá lên được” .
Đêm hôm đó, tôi tiễn Dương Bích Liên đến đầu con dốc phố Bà Triệu. Đến đó ông bảo tôi là ông tự về được v́ nhà ông ở ngay phía dưới con dốc đó. Tôi dừng lại và nh́n theo dáng đi liêu xiêu của người họa sĩ được xếp vào bộ tứ huyền thoại “Sáng - Nghiêm - Liên - Phái” danh giá vào bậc nhất làng hội họa Việt Nam. H́nh ảnh cuối cùng về Dương Bích Liên trong tôi là h́nh ảnh bóng dáng một người say đang đi loặng quạng khuất dần dưới triền con dốc của phố Bà Triệu.
Nh́n vào những tác phẩm Dương Bích Liên để lại người ta nhận thấy, mảng đề tài Chân dung thiếu nữ của Dương Bích Liên được xem là thành công hơn cả, và có một thành ngữ của giới mộ điệu “Phố Phái - Gái Liên” đă khẳng định điều đó.
Trước khi giă từ trần thế , Dương Bích Liên đă bày tỏ nguyện vọng của ḿnh với bạn : “ Sau này, trong ngày tôi sang bên kia thế giới, tôi không muốn có ai là người lớn. Tôi muốn đến đưa tiễn tôi là hai đứa trẻ nhỏ, một trai, một gái, chúng ăn mặc thật correct. Chỉ có hai đứa trẻ ấy, đi lững thững theo chiếc xe ngựa chở cái xác không hồn của tôi ra nghĩa trang và đừng có người lớn nào đi theo cả.” Nhưng khi Dương Bích Liên chết, người ta đă không dám chiều theo ư muốn đó của ông. Vài năm sau khi Dương Bích Liên chết, các nhà làm phim đă dựng lại toàn bộ chi tiết mà nguyện vọng của nhà danh họa đă bày tỏ, có hai đứa trẻ, ăn mặc đúng điệu, theo kiểu Châu Âu, lững thững đi theo chiếc xe ngựa chở cỗ quan tài, vừa đi chúng vừa rắc những cánh hoa xuống hai ven đường, trong khung cảnh của trời chiều mùa thu. Bộ phim có tựa đề là “Sắc vàng lặng lẽ”



Chuyện kể về ông giáo Đạm
Bùi Xuân Phái được tiếng là vẽ rất nhiều chân dung bạn bè, người thân, đồng nghiệp, và người mến mộ tranh của ông. Thần thái của nhà văn Nguyễn Tuân, nhà nhiếp ảnh Trần Văn Lưu, nhà văn- nhà biên kịch Lưu Quang Vũ, họa sỹ Nguyễn Sáng, nhà giáo Vũ Đ́nh Liên, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Đặc biệt là bộ tranh chân dung ông giáo Đạm. Có thể nói, ông giáo Đạm được Phái vẽ nhiều chân dung nhất. Ông giáo thường đến chơi họa sĩ mỗi ngày, từ thủa Phái c̣n sống chật vật trong cảnh hàn vi. Từ hồi thập niên 60, 70, nhà sưu tập này đă được ông vẽ hơn 200 bức chân dung, với đủ các chất liệu. Đặc biệt và ấn tượng nhất là bộ tranh chân dung do Phái vẽ ông Đạm vẽ trên vỏ bao diêm. Những bức chân dung nhỏ xíu, có thể nói đó là bộ tranh chân dung nhỏ nhất Việt Nam, gồm 12 bức, được vẽ trên 12 bao diêm.
Nhớ lại, tôi thấy cụ giáo Đạm là người gần gũi và thấu hiểu tâm tư của Phái. Cách ứng xử của ông giáo Đạm với Phái là đúng mực, ân t́nh nhất so với tất cả các nhà sưu tập thời đó. Thời đó cụ Đạm cũng là một nhân vật lạ lùng. Cụ vốn là một nhà giáo về môn sử học, với vẻ mực thước và mô phạm. Vậy mà cụ kết bạn được với mấy ông hàn sĩ thủa đó, kể cũng lạ. Cụ Đạm nói ít nhưng hay cười hiền lành, cá tính của cụ cũng điềm đạm như chính cái tên của cụ vậy. Cụ giáo Đạm hay đến nhà chơi, nên tiện thể Bùi Xuân Phái dùng luôn cụ Đạm làm người mẫu để vẽ. Thỉnh thoảng cụ giáo Đạm nh́n thấy bức nào hay hay là ngỏ lời xin luôn v́ cả Phái lẫn cụ giáo Đạm dường như cũng có thỏa thuận ngầm, họ xem đó là cách mà họa sĩ phải trả công cho những lần cụ Đạm đến ngồi chơi tṛ chuyện, vừa bổ túc thêm kiến thức về hội họa từ người bạn họa sĩ, vừa làm người mẫu cho họa sĩ vẽ.
Xét về mối tương quan tinh thần và vị thế của hai người th́ thấy có độ vênh khá lớn về quan niệm nghệ thuật. V́ thế tôi không thấy Bùi Xuân Phái và cụ Đạm nổ ra một cuộc tranh luận nào về nghệ thuật bao giờ. Họ đến với nhau bằng cái t́nh cùng sự cảm thông và thấu hiểu.
Có lần vào năm 1964, mẹ tôi nói với Bùi Xuân Phái cố gắng gặp bạn của ông thử xem khả dĩ có thể vay được một số tiền nhằm làm cái gác xép để ông có thêm diện tích làm xưởng vẽ. Phái đă đến gặp ông Lâm cà phê, ông Lâm lắc đầu, vỗ đùi đét một cái “Tiếc quá, giá mà ông đến gặp tôi từ hôm qua, vừa có thằng cháu dưới quê lên, tôi c̣n ít tiền, nó hỏi mượn hết cả” Sau Bùi Xuân Phái t́m đến cụ giáo Đạm, vợ chồng cụ giáo Đạm vui vẻ giúp cho mượn ngay lại c̣n cho người nhà đưa Bùi Xuân Phái về tận nhà. Đây cũng là lần duy nhất mà tôi biết Bùi Xuân Phái v́ chiều theo ư vợ mà chịu đựng một nỗi khổ tâm đầy mặc cảm, ông đă phải mượn tiền của bạn. Điều này thực sự là một đ̣n đánh nặng vào tâm hồn vốn đă rất nhậy cảm và tự trọng của người nghệ sĩ. Với số tiền vay của cụ Đạm, gia đ́nh đă làm được cho Bùi Xuân Phái căn gác xép, từ đó,  Phái chính thức có xưởng vẽ riêng của ḿnh, cho dù nó rất thiếu ánh sáng và chật, chỉ với diện tích 8 thước vuông. Nhà thơ Vũ Đ́nh Liên cũng có làm bài thơ mô tả vể căn gác này. V́ các ông nhà thơ thời đó nếu có thơ ra th́ cũng chỉ đọc miệng cho nhau nghe, nên không c̣n ai nhớ đủ cả bài thơ ấy :
Gác treo tám thước nhà anh Phái
Một tiếng thơ ngâm sóng gió đầy...

Khi đă trả được món nợ cho cụ Đạm, nhiều chục năm sau, Bùi Xuân Phái vẫn c̣n đem câu chuyện đó ra kể lại và xem người bạn này như ân nhân. Có thể v́ thế mà Bùi Xuân Phái đă có nguyên do để vẽ cụ giáo Nguyễn Bá Đạm nhiều như thế.

Tuy nhiên có một thực tế là, ban đầu những nhà sưu tập chỉ muốn có vài ba bức tranh đẹp của họa sĩ để treo chơi, nhưng dần dần, đặc biệt là với tranh Bùi Xuân Phái, nó giống như chất heroin gây nghiện. Nếu người ta đă có vài bức đẹp treo ở nhà rồi, th́ mỗi lần lại thăm xưởng vẽ của họa sĩ, khi gặp thấy những bức đẹp hơn, bằng mọi giá, người ta lại muốn có thêm. Và về sau, muốn có những bức tranh tầm cỡ, có kích thước lớn, cụ giáo Đạm phải đặt vẽ, hoặc mua, chứ không thể xin không được nữa. Có thể nói, cụ giáo Đạm nhập cuộc chơi sưu tập tranh, và có được một kiến thức hiểu biết sành sỏi về hội họa là bắt nguồn từ Bùi Xuân Phái.
Gần đây tôi có gặp lại cụ Đạm, vẫn dáng cao to, đôi mắt sáng, mũi gồ cao, cụ Đạm c̣n giữ nguyên vẻ quắc thước, thông tuệ, giống như những bức chân dung mà Bùi Xuân Phái vẽ ngày nào. Cụ giáo Đạm có giọng nói rủ rỉ nhẹ nhàng, khi gặp tôi, cụ ôn kể lại những câu chuyện về Bùi Xuân Phái, cụ giáo Đạm nói:

-Tinh thần của Phái sâu kín nhưng vô cùng đằm thắm và hóm hỉnh, ẩn chứa bên trong cái vẻ giản dị của một con người với vóc dáng gầy gầy cao cao ấy là một mănh lực sáng tạo ghê gớm, mănh lực ấy mạnh mẽ đến độ đă biến cả h́nh ảnh những bức tường rêu phong thành châu báu!
Những bức tranh Bùi Xuân Phái tặng cụ Đạm ngày nào bỗng trở thành một động lực quan trọng giúp cụ có thể tiếp nối thú chơi tao nhă là sưu tầm tiền cổ. Cụ Đạm say sưa mê mẩn sưu tầm những đồng tiền cổ đến nỗi trắng tay. Cụ Đạm đă phải bán đi những bức chân dung tuyệt đẹp của Phái để bổ sung thêm những đồng tiền cổ có giá trị lớn trên trường quốc tế. Giới sưu tầm đă xưng tụng cụ là “Kỳ nhân tiền cổ đất Hà thành”. Ngày nay, rất tiếc bộ tranh chân dung cụ giáo Đạm do Bùi Xuân Phái vẽ đă tản mát khắp nơi trên thế giới. Cho dù cụ hay nói vớt, nói dỗi đi cho qua chuyện “Thân giữ đă khó, nói chi đến đồ”. nhưng từ trong sâu thẳm, cụ giáo Đạm cũng thừa nhận, ḿnh mới là người tiếc nuối nhất và chịu nhiều mất mát nhất khi đă để tuột khỏi tay từ rất sớm cả bộ tranh Chân dung ông giáo Đạm do danh họa Bùi Xuân Phái vẽ tặng.



Chuyện kể về ông Đức Minh
Điều kiện và hoàn cảnh cùng vị thế của một nhà tư sản đă giúp ông kiếm được bộn tiền để rồi khi ông gặp gỡ với hội họa, th́ như người bị bỏ bùa mê, thuốc lú, hội họa đă lại lấy đi hầu hết số vốn liếng mà bao lâu ông mới gây dựng nên. Nhiều khi ông đă phải bán đi những cổ vật qúi giá, hay phải đi vay mượn thêm để đủ tiền mua tranh. Nếu bức tranh đó đă hớp hồn ông th́ giá cả bao nhiêu với ông cũng không quan trọng mấy.
Đầu những năm 60, ông Đức Minh xuất hiện và bắt đầu mua tranh của các họa sĩ nhằm bổ sung vào bộ sưu tập mà trước đó ông đă có với số tranh rất có giá trị nhưng chưa nhiều. Đó là những bức ông mua trong chuyến đi Pháp, như: “Chơi ô ăn quan” của Nguyễn Phan Chánh, “Thiếu nữ bên cây phù du” của Nguyễn Gia Trí và một bức của danh họa thế giới Fujita (một họa sĩ người Nhật Bản, nhưng sống, làm việc và nổi danh tại Paris). Bức “Bên hoa huệ” ông Đức Minh mua từ thời Pháp chiếm Hà Nội. Chỉ cần kể tên vài ba danh phẩm đó thôi, giới mộ điệu mỹ thuật cũng đă kính nể rồi.
Ông Đức Minh tên thật là Bùi Đ́nh Thản (1920 –1983. Ông vốn là một thương gia ở lănh vực “vàng bạc đá qúi”. Và ông có tiếng là một đại gia giầu có ở đất Hà Thành thời bấy giờ, là chủ của 7 tiệm kim hoàn tại Hà Nội trước 1954. Ngày nay, Tràng Tiền Plaza (Hà Nội) là một trong bảy dấu vết về cửa hàng cũ của gia đ́nh Đức Minh thời trước.

Điều kiện và hoàn cảnh cùng vị thế của một nhà tư sản đă giúp ông kiếm được bộn tiền để rồi khi ông gặp gỡ với hội họa, th́ như người bị bỏ bùa mê, thuốc lú, hội họa đă lại lấy đi hầu hết số vốn liếng mà bao lâu ông mới gây dựng nên. Nhiều khi ông đă phải bán đi những cổ vật qúi giá, hay phải đi vay mượn thêm để đủ tiền mua tranh, nếu bức tranh đó đă hớp hồn ông th́ giá cả bao nhiêu với ông cũng không quan trọng mấy.
Ông Đức Minh sở hữu một ngôi nhà biệt thự đẹp và rộng lớn bên hồ Thuyền Quang. Từ những năm 60 đến những năm 80, ông trưng bày toàn bộ những tác phẩm nghệ thuật mà ông sưu tập được ở đó. Và có thể gọi đó là nơi triển lăm tranh nghệ thuật xuất hiện sớm nhất ở Việt Nam từ ngày tiếp quản Thủ Đô. Trong mấy thập niên đó các họa sĩ và các sinh viên trường mỹ thuật vẫn thường lui tới thưởng lăm và trao đổi thông tin nghệ thuật. Nơi đây cũng là một địa chỉ rất ấn tượng cho khách nước ngoài đến thăm quan. Thời đó nếu là khách nước ngoài th́ phần nhiều phải là do cán bộ của Nhà nước giới thiệu và dẫn đến. Do đó ông Đức Minh rất an tâm và hănh diện v́ vị thế đặc biệt, chỉ có ông mới được tiếp xúc với Tây. Tôi nhớ là ông Đức Minh rất thích khoe kể lại mỗi khi ông tiếp khách mắt xanh mũi lơ. Các họa sĩ nghe Đức Minh kể những chuyện tiếp Tây thường không giấu được vẻ sốt ruột muốn biết tác phẩm của ḿnh có gây được ấn tượng ǵ cho các vị “Tây” đó không ? Thường th́ ông Đức Minh hay chậm răi và nói với vẻ quan trọng:

- Ờ, ờ, moi thấy luy dừng lại khá lâu trước bức tranh của toi.

Dừng lại là một chuyện, nhưng thích tác phẩm đó hay không th́ chẳng bao giờ thấy ông cho biết.
Vào thập niên 60,70. cùng với sự kiện ra đời Bảo tàng Mỹ thuật, th́ sự xuất hiện pḥng tranh của sưu tập Đức Minh là có ư nghĩa đẹp và hữu ích cho đời sống văn hóa thời đó. Nó giúp cho người ta có cái nh́n về một chiều khác của nghệ thuật. Đó là chiều nghệ thuật phi XHCN (nói cho dễ hiểu th́ những tác phẩm ông Đức Minh chơi thường không phải là chủ đề phục vụ đường lối chính sách, tranh ông sưu tập thường không có nội dung lao động, chiến đấu). Ngay từ những ngày đó, người ta đă có sự so sánh và cho rằng nếu đă xem tranh trong bộ sưu tập Đức Minh th́ không muốn trở lại Bảo tàng Mỹ thuật Quốc gia nữa. Năm 1965, ông Đức Minh đă từng đề nghị hiến tặng toàn bộ số tranh ông sưu tập được cho nhà nước, đổi lại, ông muốn toàn bộ căn biện thự của ông sẽ trở thành bảo tàng và mang tên Đức Minh. Nhưng đề nghị của nhà tư sản này vào thời đó đă không được xem xét, và giấc mộng cùng nguyện vọng dâng hiến cho Hà Nội bảo tàng mỹ thuật mang tên Đức Minh cũng đă theo ông xuống suối vàng.
Sau khi ông Đức Minh mất, ngôi biệt thự bên hồ đă được bán, thay vào đó là một cao ốc. Bộ sưu tập đồ sộ trở thành tài sản thừa kế, được chia cho các con ông. Có người giữ được nhưng cũng có người đem bán với giá dễ mua. Đặc biệt nhà sưu tập Danh Anh đă từng khoe kể là phải vận chuyển bằng nhiều chuyến xe xích lô mới hết được số lượng tác phẩm đă mua và anh ta đă trả giá đổ đống cho số lượng chứ không phải chất lượng của từng bức tranh. Nghe thật đau xót. Đó thực sự là một mất mát lớn cho nền mỹ thuật Việt Nam khi mà chỉ trong vài ngày, bộ sưu tập mỹ thuật danh tiếng nhất ở Việt Nam đă bị phá nát và chia lẻ ra trong lặng lẽ. Vụ phát mại âm thầm vào năm đó đă gây nên cơn sóng ngầm lộn xộn trong thị trường mỹ thuật. Rất nhiều tranh giả cũng thừa dịp len lỏi, trà trộn vào đó bởi nhiều chủ nhân gallery đă coi sự kiện đó như một cơ hội cho những lần họ thề sống, thề chết với khách ngoại quốc rằng chính bức này, bức kia được mua trong bộ sưu tập nhà Đức Minh. Nhưng cũng rất may cho giấc mộng của nhà sưu tập Đức Minh, hiện nay đă được tiếp tục dệt nên bởi người con trai là Bùi Quốc Chí. Anh đă không bán số tranh mà phần của anh đă được chia và từ nhiều chục năm nay, Chí đă bền bỉ bỏ tiền ra chuộc lại từng bức tranh quí đă bị bán đi từ rất sớm do bởi quyết định sai lầm của thân quyến.

Những ǵ tôi biết về ông Đức Minh không nhiều. Bởi những khi ông Đức Minh lui tới thăm Bùi Xuân Phái thủa đó, tôi c̣n là cậu bé con chạy lon ton. Nhưng t́m trong trí nhớ cũng thấy khá nhiều h́nh ảnh ấn tượng để nhớ.
Tôi vẫn nhớ cách mua tranh của ông Đức Minh mỗi lần ông lại thăm xưởng vẽ của Bùi Xuân Phái thật độc đáo. Ngoài thói quen là bao giờ cũng phải mặc cả, ông c̣n có thói quen khi mua tranh là trong lúc rút tiền ra trả cho họa sĩ, thường ông Đức Minh sẽ đảo mắt nh́n quanh (Thực ra với các nhà sưu tập th́ đây là thói quen nghề nghiệp, vị nào đến thăm xưởng vẽ của họa sĩ th́ mắt cũng đảo như rang lạc) và thế nào ông cũng t́m thấy một bức tranh thích hợp để ông cầm lấy nó và yêu cầu được thêm (Những bức tranh được họa sĩ đồng ư “thêm” cho ấy, có khi c̣n đẹp và giá trị hơn cả bức đă được trả tiền mua). Tôi chưa thấy lần nào ông Đức Minh không toại được ư muốn mỗi khi ông mua tranh theo phương thức đó. Và một thói quen nữa là ông thường chọn dịp đến chơi Phái vào những ngày giáp Tết. Bởi những ngày này, nhu cầu tài chính để chi tiêu cho một cái Tết của gia đ́nh họa sĩ là rất bức thiết. Thế nên khi ông Đức Minh đă chọn những bức tranh ưng ư và trả giá bao nhiêu th́ người họa sĩ cũng đành phải nhân nhượng thôi.
Một tuyệt chiêu nữa mà ông Đức Minh cũng hay dùng khi mua tranh là ông tạm thời bê luôn bức tranh của họa sĩ về nh́n ngắm kỹ lưỡng đă, và trong khoản thời gian này ông thường mời các họa sĩ khác đến để hỏi ư kiến về bức họa xem có nên mua hay là không. Chính v́ tính tuyển chọn kỹ lưỡng và nghiêm túc nên những tác phẩm trong bộ sưu tập của ông Đức Minh vào thời đó đều là những tác phẩm xuất sắc.
Phải thừa nhận một điều là các họa sĩ thập niên 60 và 70,  thường xem ông Đức Minh là vị cứu tinh cho đời sống của ḿnh. Tôi nhớ một lần ông Đức Minh đến thăm Bùi Xuân Phái trước lúc hỏi mua tranh, ông Đức Minh đă kể câu chuyện về ngày hôm trước, ông đă phải tiếp họa sĩ Thăng Long tại nhà riêng (người họa sĩ này từ lâu rồi tôi không c̣n nghe về ông ta nữa. Ông ta đă biến mất tăm tích cả h́nh hài lẫn cái tên của ḿnh). Họa sĩ Thăng Long đến gặp Đức Minh để tŕnh bày hoàn cảnh của ḿnh. Họa sĩ này kể rằng, cách đây mấy ngày, anh ta đă phải đến bệnh viện để bán máu lấy chút tiền mua gạo. Bây giờ gạo đă hết, mệt lả v́ nhịn ăn mấy ngày rồi, sức khỏe th́ gầy yếu nên ngay cả đi bán máu bị bệnh viện cũng chê, từ chối không mua. Ông Đức Minh kể:

-Thăng Long đem lại cho tôi cả một đống tranh và đề nghị tôi mua giúp, thương t́nh tôi cũng đành mua cứu trợ cho anh ta một bức.
Sau khi nghe ông Đức Minh kể xong câu chuyện, tôi vẫn nhớ dáng vẻ của Bùi Xuân Phái khi đó. Ông đă lặng đi không nói lời nào và ông đă cúi gục đầu xuống, buồn bă như chính ḿnh là người có lỗi với người bạn đồng nghiệp.
Trong sưu tập tranh của ông Đức Minh, đều có đủ mặt các danh họa trường Mỹ thuật Đông Dương. Họa sĩ mà ông Đức Minh có nhiều tranh nhất chính là Bùi Xuân Phái. Nhiều đến nỗi mà đến thập niên 70, ông Đức Minh đă phải kêu lên với mọi người:

-Trong sưu tập của tôi có nhiều tranh của Bùi Xuân Phái quá rồi, bây giờ phải là tranh thật ấn tượng và giá mềm tôi mới mua.

 Ông Đức Minh đă làm điều ông đă nói, thưa thớt vài năm mới lại thấy ông trở lại thăm xưởng vẽ của Bùi Xuân Phái và đến khoảng năm 74 th́ việc mua tranh dừng hẳn. Năm 75, đất nước thống nhất, ông Đức Minh vào sống tại T.P Hồ Chí Minh.
Năm tôi 13 tuổi (1969) bắt đầu đến thế giới hội họa, tôi cũng đă có những bức tranh đầu tiên được đăng trên tờ Văn Nghệ. Hôm ông Đức Minh đến chơi, Bùi Xuân Phái lấy tờ báo có đăng mấy bức tranh của tôi khoe ông Đức Minh, và Bùi Xuân Phái đă “b́nh luận” về cậu con của ḿnh:

 -Moi thấy trong tranh của nó có một cái ǵ đấy! Lạ lắm toi ạ.

Ông Đức Minh nghe lời “tiếp thị” đầy thuyết phục ấy bèn hỏi mua liền của tôi 3 bức tranh. Cảm giác ngất ngây đầu tiên khi nhận được tiền bằng công việc mà ḿnh yêu thích, thật khó quên được. Và tôi vẫn nhớ rơ là sau khi ông Đức Minh đưa tiền cho tôi xong, ông bèn quay sang Bùi Xuân Phái và đề nghị ...thêm (mua tranh của con và thêm bằng tranh của bố). Bùi Xuân Phái đành chiều nhà sưu tập, ông chọn một bức tranh ưng ư để “thêm” và coi đó như một sự đền bù v́ ḿnh đă chót “tiếp thị” tranh của con. Sau này, mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn nghĩ rằng, cử chỉ ấy của cả hai ông, thực chất, là do các ông chỉ muốn cổ vũ động viên tôi là chính.Thế nhưng, vào năm 94, tôi nhận ra một bức trong số đó được đăng trang trọng trong một tạp chí nghệ thuật của Hồng Kông. Có ai đó đă dă man cạo chữ kư của tôi trên bức tranh đi thay vào đó là chữ kư của Phái. Người xấu đó nếu biết câu chuyện mà tôi vừa kể, hẳn sẽ nhận thấy rằng cùng một lúc anh ta đă xúc phạm tới nhiều người.
Một kỷ niệm nữa mà tôi sẽ nhớ măi đó là vào một ngày sau ngày cưới của tôi, t́nh cờ ông Đức Minh từ Sài G̣n ra chơi. Hôm đó ông Đức Minh ngạc nhiên v́ thấy trong nhà tôi có thêm một thành viên mới. Bùi Xuân Phai giới thiệu:

  -Đó là vợ Phương, chúng nó vừa mới làm đám cưới.

 Ông Đức Minh ngỏ lời chúc mừng và đưa ra đề nghị:

-Bác không được biết nên không có quà mừng các cháu, nhưng ở nhà bác hiện đang có chai rượu Tây chờ dịp nào vui mới dùng đến, nhân dịp này, bác mời cả 3 bố con đến thăm nhà bác luôn

 Đó là lần đầu tiên và cũng là duy nhất tôi được xem khoảng hơn 1000 bức tranh ở các thể loại của các họa sĩ danh tiếng nhất cùng tề tựu tại nhà ông Đức Minh. Tôi đă cảm thấy vinh dự và cảm động khi cùng với người vợ mới cưới được là khách mời, được đi ở giữa, một bên là “huyền thoại” Bùi Xuân Phái, một bên là “huyền thoại” Đức Minh. Chúng tôi được dẫn đi thăm các pḥng trưng bày tranh. Ông Đức Minh giới thiệu kể tên từng tác giả và đưa ra cả cảm nghĩ của ông nữa và người bên cạnh là Bùi Xuân Phái cũng bổ sung, tŕnh bày ư kiến của ông về từng tác giả, tác phẩm cho chúng tôi nghe. Sau lần gặp ông Đức Minh lần đó, tôi không bao giờ gặp lại ông nữa. Ông Đức Minh mất đột ngột tại T.p HCM vào năm 1983



Chuyện kể về ông Lâm Cà Phê

Cà phê Lâm là quán cà phê quen thuộc của các hàn sĩ Hà Nội từ những năm 60. Chủ quán là ông Nguyễn Văn Lâm. Khách đến quán thường gọi thân thiện là Lâm “toét”, có khi c̣n gọi là Lâm “khói”. Ông Lâm gày c̣m, nhỏ bé. Thực ra, mắt ông không bị toét mà do ông có thói quen hấp him cặp mắt và lúc nào mắt cũng nḥe ướt. Người mới gặp ông Lâm lần đầu cảm giác thấy ông thật “hoàn cảnh” và ông Lâm cũng biết lợi dụng cái vẻ hoàn cảnh ấy mà vận dụng vào chiêu “bị lụy kế” (Ông thường giả bộ đóng vai người không có tiền nhiều để mua tranh với giá rẻ như cho không). Ông Lâm yêu hội họa bằng một thứ t́nh yêu bản năng, và trở thành một nhà sưu tập bất đắc dĩ. Đương nhiên giờ đây ông được coi là nhà sưu tập hàng đầu, cự phách và là bậc tiền bối của giới sưu tập tranh hiện nay ở Việt Nam. Bằng sự nhạy cảm bản năng, ông Lâm biết phân biệt tranh đẹp với tranh rẻ tiền, tranh sáng tạo với tranh đường ṃn.

Ông Lâm có con mắt tinh đời trong sự cảm nhận cái đẹp, hơn hoặc chí ít cũng chẳng thua kém ǵ những giáo sư, những nhà phê b́nh mỹ thuật thời đó.
Ông Lâm Toét đặc biệt yêu mến văn nghệ sĩ, nhất là các họa sĩ. Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên, Nguyễn Tư Nghiêm, Trọng Kiệm, Lưu Công Nhân, Văn Cao, Nguyễn Sĩ Ngọc...đều là khách quen của Lâm “toét” và cũng là con nợ chung thân của quán. Nhà văn Nguyễn Tuân đă nói vui rằng: “Hữu ngạn sông Saine có bảo tàng Louvre, tả ngạn sông Hồng có Cà phê Lâm”.  Các họa sĩ nghèo, thường uống chịu, ghi sổ, ông Lâm không bao giờ thúc dục đ̣i nợ họ. Khi ông nhận tranh của các họa sĩ gán nợ ông không bao giờ trả giá, không c̣ kè bớt một thêm hai. Các vị cho ông tranh để ông treo, đổi lại các vị có những bữa ăn sáng gồm có hai quả trứng ốp la và bánh mỳ, sau đó lại có cả cà phê, thuốc lá để nhâm nhi nữa. Các nghệ sĩ nghèo thoải mái gọi đồ ăn, đồ uống mà phương thức thanh toán thường không phải là bằng tiền mặt. Tất cả đều được ông Lâm ghi vào sổ nợ, đến khi đă khá nhiều ông Lâm sẽ khẽ khàng vỗ vai bảo: “ Này ông, đă đủ cho một bức tranh rồi đấy ông ạ”. Tranh ǵ cũng được, ông không khe khắt. Hiện thực, siêu thực, lập thể, dă thú hay đa đa... đối với ông th́ cũng thế cả thôi. Ông đặt trọn niềm tin vào trách nhiệm của các nghệ sĩ.

Cà Phê Lâm thực sự là một kiểu “salon chui” thời ấy, một pḥng triển lăm không chính thức trưng bày tranh của các họa sĩ Hà Nội, phục vụ quần chúng trong suốt mấy thập niên từ những năm 60.

Đến những năm 80, các họa sĩ Việt Nam mới được phép tổ chức, trưng bày những đứa con tinh thần của ḿnh. Những năm 90, họa sĩ Việt Nam mới thực sự bắt đầu có cơ hội phô diễn công lao sáng tạo nghệ thuật của ḿnh ra trước công chúng và c̣n được đem tranh ra nước ngoài làm triển lăm. V́ thế, nhớ lại thời kỳ ngặt nghèo, khó khăn ấy, lịch sử mỹ thuật Việt Nam nếu có ghi chép, tưởng cũng không nên bỏ quên công lao của ông Lâm cà phê. Các tài liệu và bài viết đáng tin cậy về Cà Phê Lâm hầu như không có, nhưng những giai thoại và những câu chuyện thêu dệt th́ nhiều. Thực tế, ông Lâm dù có phóng khoáng mấy th́ cũng lấy cho mỗi họa sĩ nhiều lắm cũng chừng dăm ba bức chứ lấy nhiều th́ nhà ông diện tích chỉ có vậy, chứa vào đâu cho hết. Cách thức chơi tranh của ông Lâm cũng giống như người chơi cây cảnh, cứ cây nào chưa có th́ cố mà có, cây nào có rồi th́ thôi.

Thời ấy, người ta chơi tranh thật là hồn nhiên và thuần khiết. Chơi tranh v́ thích, vậy thôi, không hề có bất kỳ một động cơ tư lợi hay háo danh nào. Thời đó, người vẽ tranh đă bị coi là gàn và người chơi tranh c̣n bị xem là gàn hơn. Cứ h́nh dung, nếu thời ấy ông Lâm sập tiệm v́ nợ nần mà phải bán đồ cầm cố, th́ tất cả bộ sưu tập ấy không biết sẽ bán được cho ai. Bởi lẽ rất đơn giản, không có người mua tranh vẽ vào cái thời mà cả nước, tất cả đều là “những người cùng khổ”. Và trong hoàn cảnh lịch sử, nước ta khi đó dường như khép kín với thế giới bên ngoài. Ngay cả trong thời điểm này, khách hàng có thực lực của hội họa cũng vẫn chỉ là người nước ngoài. Người Việt cũng có nhiều người mua tranh và thu gom tranh, nhưng chủ yếu vẫn là để bán lại cho người nước ngoài kiếm lợi nhuận mà thôi.
Tranh Bùi Xuân Phái, theo mắt tôi được thấy, ông Lâm có khoảng 5 bức sơn dầu, kích cỡ khá lớn. Bức nhỏ nhất trong số đó đă có kích thước: 60cm x 80cm. (Đó là bức phố Hàng Bạc, bức này hiện nay đă thuộc về nhà sưu tập Trần Hậu Tuấn. Anh bạn Tuấn này khoe kể với tôi rằng nhiều người đă hỏi mua bức Hàng Bạc và cũng do khách hàng đă đẩy giá tới 25.000 đô la Mỹ, nhưng Tuấn đă từ chối không bán. Tuấn giải thích rằng “Bây giờ tôi cầm số tiền đó, tôi không thể t́m mua đâu được một bức tranh đẹp, to và hoành tráng như thế của Phái”.

Những bức tranh của Bùi Xuân Phái có mặt tại Cà Phê Lâm đều xuất sắc.   Tất cả đều nhuốm màu thời gian và không gian Hà Nội một thời. Xem lại thấy xúc động. Nói “mầu thời gian” cho sang vậy thôi, chứ thực tế là bị nhuốm mầu...khói thuốc lá của khách đến Cà phê Lâm. Ngày nào cũng vậy, khách vô tư nhả khói ra. Trong mấy chục năm như thế th́ làm ǵ tranh không bị tối sầm đi.

Các họa sĩ thời ông Lâm chơi tranh nay hầu như đă lần lượt qua đời. Ông Lâm cũng mất cách đây vài năm. Đó là nguyên do đă làm cho quán không giữ được nét quyến rũ, lăng đăng như xưa. Bây giờ đến lại Cà phê Lâm, có cảm giác cả chủ lẫn khách đều cùng tinh quái quá. Tranh th́ vẫn vậy, cà phê th́ vẫn thế và quán không có nhiều sự đổi khác nhưng dường như sự hào hứng và t́nh người đă nhạt đi nhiều lắm.

 

 


Chuyện kể về ông Bổng Hàng Buồm

Bổng Hàng Buồm là cách gọi của giới họa sĩ dành cho nhà sưu tập Phạm Văn Bổng để không bị nhầm với Bổng nhà văn, tác giả của cuốn tiểu thuyết "Con Trâu". Ông Bổng nhà văn này cũng được gọi với cái tên: Bổng Con Trâu. Ông Bổng Hàng Buồm c̣n được Bùi Xuân Phái gọi vui bằng cái tiếng Pháp: "Bon n'est pas bon" nhưng Phái lại rất ưu ái Bổng, hầu như bữa tiệc nào ở nhà Phái, ông Bổng cũng đều xuất hiện.
Me xừ Bông, Đi không, Về có
Bổng Hàng Buồm sau mấy chục năm gom góp, năng nhặt chặt bị, nên đă có một bộ sưu tập đáng nể, phong phú, đa dạng về các loại h́nh văn hóa nghệ thuật Việt Nam. Họa sĩ mà ông Bổng Hàng Buồm có nhiều tranh nhất vẫn là Bùi Xuân Phái.
   Bổng Hàng Buồm trở thành nhà sưu tập nghệ thuật hoàn toàn do sự t́nh cờ. Ông vốn là một người lính pháo binh thời chống Pháp. Trong một trận thắng, quân đội Việt Minh tràn vào trận địa của người Pháp. Người ta hồ hởi quan tâm tới những chiến lợi phẩm là khí cụ quân sự và những vật có giá trị, không ai để ư đến vài bức tranh treo trên tường. Người lính pháo binh thấy hay hay. Anh vội gỡ chúng ra khỏi những tấm khung, cuộn lại cẩn thận rồi cất kỹ vào trong ba lô. Ngay từ đầu, ông Bổng Hàng Buồm đă đến với nghiệp sưu tập bằng tay không. Và thói quen ấy đă đồng hành với ông trong suốt cuộc hành tŕnh t́m kiếm, thu gom những tác phẩm nghệ thuật.
    Giữa những năm 60, ông Bổng cùng gia đ́nh chuyển từ quê về Hà Nội sinh sống trong căn gác 2 ở ngơ 93 phố Hàng Buồm. Căn pḥng chỉ vẻn vẹn 20m2, cũ kỹ, ẩm tối. Ban ngày khách muốn đến nhà Bổng, phải đi qua một đoạn ngơ tối um, muốn thấy lối đi phải dùng đèn pin hoặc hộp quẹt. Nếu không có cả hai thứ này, phải vừa đi vừa khua tay về phía trước. Nơi này đúng nghĩa của câu “đêm giữa ban ngày”.

    Giới sưu tập tranh ở Việt Nam thời đó, ban đầu họ là một nhóm người đă có sẵn những món đồ cổ và họ vốn là những tay chơi đồ cổ. Họ chỉ sành sỏi và hiểu về đồ cổ hoặc tiền cổ. Sau này khi tiếp xúc và học hỏi ở giới họa sĩ, nhiều người trong số họ đă trở thành những chuyên gia với con mắt xem tranh thực sự chuẩn xác. Những người cùng thời với Bổng Hàng Buồm, phải kể đến: Đức Minh, Bá Đạm, Lâm Toét, Trần Thịnh, Huệ Tóc Bạc, Tô Ninh... Con số những người chơi tranh thời ấy dẫu không nhiều nhưng có chất lượng và rất có “gout”. Chính họ là những người có công rất lớn, góp phần tạo ra những sinh khí, hào hứng, cốt cách và tinh thần cho các họa sĩ.

 Công lao của họ không phải tính bằng tiền họ có. Thời ấy ai cũng nghèo khổ cả, không có thí dụ nào nói rằng các nhà sưu tập thời ấy đă từng mua tác phẩm nào với giá mua đáng kể. Điều quan trọng ở các vị sưu tập thời đó, từ năm 1960 đến 1980, không ai khác, họ chính là những người cổ vũ, là công chúng xem tranh và b́nh chọn ngôi thứ trong làng hội họa một cách chuẩn xác, vô tư nhất. Kiến thức hội họa của họ đáng để cho thế hệ mới học hỏi. Các nhà sưu tập thế hệ đầu tiên ấy, chất lượng hơn và khác hẳn với giới sưu tập bát nháo hiện nay.

Chuyện riêng về Bổng Hàng Buồm với Bùi Xuân Phái không có nhiều lắm. Bởi bất kỳ mối quan hệ nào nếu không được bắt nguồn từ sự chân thành đều sẽ không dẫn tới sự cảm động. Ông Bổng đến với Phái với quan điểm “đi không về có” và “đi nhẹ về nặng”. Phái cũng biết là Bổng lợi dụng ḿnh, nhưng ông đă hầu như bỏ ngỏ. V́ nể trọng sự rộng lượng của Phái, nên bao giờ ông Bổng cũng xem Phái như “đại ca” của ḿnh, luôn vâng, dạ và tận tụy. Hầu như các tối, Bổng Hàng Buồm thường có mặt tại nhà Bùi Xuân Phái để đăng kư cái sọt đựng giấy. Cái sọt đựng giấy, rác ấy là nơi Phái sẽ vứt vào đấy những bức tranh vẽ mà ông không vừa ư. Thường là tranh vẽ trên giấy. Phái có thói quen là khi thấy bức vẽ đó chưa hay, ông vo tṛn bức tranh lại như một quả bóng nhỏ và từ xa khoảng 4 mét ông luôn ném trúng vào chiếc sọt giấy để trong góc nhà. Mỗi lần như thế, Bổng Hàng Buồm lại vỗ tay vang và khen Phái là một quán quân suất sắc của môn bóng rổ. Mỗi tối, ông Bổng thường nhặt được 2 hoặc 3 “quả bóng” như thế. Sau đó ông Bổng đem những “chiến lợi phẩm” đó về nhà, duỗi thẳng ra và dùng bàn là ép cho thật phẳng. Công đoạn cuối là quay trở lại nhà Phái để xin tác giả chữ kư. Những bức tranh đă từng là “quả bóng” ấy tuy cũng chỉ là kích cỡ nhỏ và được vẽ trên giấy, nhưng sau khi Bùi Xuân Phái mất, các nhà sưu tập ở TP Hồ Chí Minh đă phải mua của ông Bổng với giá nhẹ nhàng nhất cũng là 1000 USD cho một “quả bóng”ấy.

Một chiêu thức nữa tôi thấy ông Bổng cũng hay sử dụng là đem đến một bộ bút vẽ cho Phái mượn. Ông Bổng sẽ chờ đợi một khoảng thời gian đủ để cho những chiếc bút đó đă được Phái sử dụng ...ṃn. Đấy sẽ là lúc ông Bổng ngỏ ư đ̣i lại bộ bút vẽ đă cho họa sĩ mượn. Phái không có cách nào khác là phải đền bù một bức tranh theo nguyện vọng của “ me xừ Bông”. Bởi v́, ai cũng biết là không thể khi mượn đồ c̣n mới mà khi trả, nó lại bị ṃn vẹt đi như vậy được.
  Người ta cũng đă nói vui về nhà sưu tập này: “Sau khi bắt tay ông Bổng, cần phải kiểm tra lại xem c̣n đủ năm ngón tay trên bàn tay của ḿnh không”.

Có một vài h́nh ảnh ấn tượng c̣n lưu lại trong trí nhớ tôi, đó là “Hà Nội 12 ngày đêm”. Năm 1972, người Mỹ, trong nỗ lực cuối cùng, dùng B52 rải thảm Hà Nội, Hải Pḥng, Thái Nguyên, đánh vào các khu dân cư đông người nhằm làm nhụt ư chí quyết thắng của Việt Nam. Cả Hà Nội với tinh thần chiến đấu kiên cường, quả cảm, mưu trí, sáng tạo đă đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng B52 của đế quốc Mỹ, làm nên chiến thắng lừng lẫy "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không". Những ngày đêm ác liệt đó, cuộc sống thật mong manh. Người ta không dám chắc là ngày mai ḿnh c̣n sống hay sẽ chết. Vậy mà có một buổi tối trong 12 ngày đêm ấy, ông Bổng Hàng Buồm cùng với ông Đức Minh đến chơi nhà Bùi Xuân Phái. Ông Bổng yêu cầu Phái thắp sáng đèn lên để chỉ cho ông Đức Minh xem một bức tranh mà ông Bổng đang thèm muốn. Trong tiếng bom đạn rền vang ngoài trời, tôi nghe tiếng c̣ kè thương lượng của 2 nhà sưu tập. Ông Đức Minh muốn có bức Kiều của Nguyễn Tư Nghiêm mà ông Bổng đang giữ. C̣n ông Bổng muốn ông Đức Minh mua bức của Bùi Xuân Phái mà ông Bổng đang muốn có để trao đổi lấy bức Kiều. Nếu không được chứng kiến tận mắt h́nh ảnh này, người ta sẽ cho rằng đó chỉ là h́nh ảnh của một kịch bản cho một bộ phim.

Bức tranh của Phái có giá trị lớn và cũng là bức cuối cùng nhờ vào tài “thuyết khách” mà Bổng Hàng Buồm có được là lần ông Bổng tổ chức cưới chồng cho cô con gái (năm 1987). Ông Bổng đem thiệp cưới đến mời vợ chồng Phái đến dự. Trong lúc đưa thiệp mời, ông Bổng đưa ra ư kiến : “ Để tránh cho anh khỏi lăng phí tiền mừng ngày vui của các cháu, mặt khác cũng là nguyện vọng của hai đứa chúng nó, thay v́ mừng tiền như thiên hạ, lần này xin anh tặng tụi nó một bức tranh.”  Phái vui vẻ nhận lời. Hôm đi dự đám cưới, ông sai tôi gỡ một bức tranh to vật vă ở trên tường xuống để đem đi làm quà mừng đám cưới con gái Bổng.
Hôm Bùi Xuân Phái mất (24/6/1988) hàng ngàn người Hà Nội đă đến tiễn đưa ông. Chỉ riêng ông Bổng Hàng Buồm đến và đứng yên lặng lẽ một ḿnh hàng giờ trong góc khuất, nước mắt dàn dụa trên khuôn mặt. Tôi biết, ông Bổng là người hiếm hoi đă hiểu rơ và cảm phục cái tài và cái t́nh của Bùi Xuân Phái đến từng chi tiết .Tôi đến bên ông Bổng, bất giác, cả hai chúng tôi đặt tay lên vai nhau, ông Bổng nói lẩm bẩm như người đang nói trong mê: “Anh Phái vĩ đại thật! Anh Phái vĩ đại thật!”



Xem tiếp phần III